SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS

Tháng Mười Hai 12, 2020 11:24 chiều

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS

A/ ĐẶT VẤN ĐỀ:

1/ Đặc trưng môn văn

– Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm Khoa học xã hội. Đây là một môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của mỗi con người. Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dụcquan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Mặt khác nó cũng là một môn học thuộc nhóm công cụ,môn văn còn thể hiểnõ mối quan hệvới rất nhiều các môn học khác trong nhà trường phổ thông. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống.

– Môn Ngữ văn gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn. Có chung mục đích là giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho HS các KN nghe, nói, đọc viết, nhưng có vị trí độc lập tương đối và PPDH đặc thù.

          * Văn học

          Mục đích: giúp HS biết cách đọc để hiểu cho được giá trị của mỗi văn bản thể hiện qua cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản đó. Cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản là cái duy nhất không lặp lại, biểu hiện tối đa nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm.

         *    Tiếng Việt

          – Hình thành ở HS năng lực sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kĩ năng cơ bản là: nghe, nói, đọc, viết.

– Giúp cho HS có những hiểu biết về ngôn ngữ Tiếng Việt, có ý thức sử dụng và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.

– Dạy Tiếng Việt thông qua:

+ Từ: nghĩa, từ loại, các phép tu từ, cấu tạo, chức năng,…

+ Câu: Các loại câu, dấu câu, các thành phần của câu, cách sử dụng và liên kết các câu,…

+ Đoạn văn: nhận thức về cách viết một đoạn văn, liên kết câu và liên kết đoạn văn,…

          * Làm văn

– HS nhận biết các loại văn bản, đặc điểm, chức năng cách thức tạo lập văn bản theo từng loại thể.

– Phân môn Làm văn Ở THCS:

+ Văn nghệ thuật (miêu tả, tự sự, biểu cảm)

+ Văn nghị luận (chính trị – xã hội, văn học)

–  Phân môn Làm văn chủ yếu mang tính thực hành, HS phải vận dụng những kiến thức văn học, tiếng Việt và kiến thức đời sống xã hội để tạo lập các loại văn bản dưới hình thức nói hoặc viết.

Những kiến thức NV cơ bản ở THCS

Lớp Đọc hiểu văn bản Tiếng Việt Làm văn
Lớp 6 Truyện dân gian

Truyện ngắn hiện đại

Kí, Văn bản nhật dụng

Thơ hiện đại

Từ

Câu

Văn tự sự

Văn miêu tả

Lớp 7 Truyện ngắn hiện đại

Ca dao, tục ngữ

Thơ trung đại

Văn nghị luận

Từ

Câu

Văn biểu cảm

Văn nghị luận (chứng minh)

Lớp 8 Truyện hiện đại;

Thơ cận đại, hiện đại,

Kịch…

Từ

Câu

Đoạn

Văn thuyết minh

Văn bản tường trình

Lớp 9 Truyện trung đại; Truyện, thơ, kịch hiện đại; văn bản nhật dụng Từ

Liên kết câu

Phân tích và tổng hợp

Nghị luận văn học

2/ Thực trạng  học văn hiện nay:

Lê-nin nói: “ Văn học là nhân học”vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học văn. Thực trạng này đã được báo động. Ban đầu chỉ là những lời than thở với nhau của những người trực tiếp giảng dạy môn văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí và dư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài văn của học sinh trong những năm gần đây mới thấy cần thiết phải thay đổi phương pháp dạy và học văn hiện nay. Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả bài kiểm tra ngữ văn, chúng ta nhận thấy có rất nhiều biểu hiện tâm lí chán học văn của học sinh, cụ thể là:

  – Học sinh thờ ơ với văn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lí thờ ơ với việc học văn ở các trường phổ thông. Điều đáng buòn nhất cho các giáo viên dạy vănlà nhiều HS có năng khiếu văn cũng không muốn tham gia với đội tuyển văn. Các em còn phải dành thời gian học các môn khác, mà phần lớn là các môn: Toán, Lí, Hoá.

– Khả năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản, GV có thể nhận ra những lỗi sai cơ bản của HS như: dùng từ, viết câu, viết chính tả sai, bố cục, lời văn lủng củng, thiếu logic…Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến thậm chí là đáng báo động trong xã hội ta.

3/ Nguyên nhân của thực trạng trên:
– Đối với người dạy:
Đa số GV có tình yêu nghề, mến trẻ, tận tuỵ với công tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến HS. Tuy nhiên vẫn còn mặt hạn chế sau:
+ Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp với một bộ phận không nhỏ HS yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao.
+ Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp trực quan đưa vào tiết học còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài của HS.
+ Một só GV chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được mạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học

– Đối với HS: Một số HS còn lười học, mải chơi,ngại viết bài,dung lượng từ ngữ trong một bài nhiều nên ngại học, phần lớn các em không chuẩn bị tâm thế tốt cho giờ học văn.

 4/   Mục tiêu của bậc học phổ thông:

Đào tạo con người toàn diện, nhưng thực tế hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bị HS xem nhẹ, mặc dù kiến thức của bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả mọi người. Muốn khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xã hội, không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn của HS, hình thành cho các em phương pháp học văn hiệu quả nhất.

B/ Giải quyết vấn đề:

I/ Bản đồ tư duy( BĐTD) và tư duy bằng bản đồ:

1/ Bản đồ tư duy:

  • Bản đồ tư duy(BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy…là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề…bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết.
  • BĐTD được coi là công cụ ghi chú tối ưu do TonyBuzan khởi xướng. Sự khác nhau cơ bản giữa ghi chú truyền thống chỉ lấy chữ làm phương tiện biểu hiện theo một trật tự nhất định( thường là từ trên xuống dưới, từ trái sang phải) thì BĐTD sử dụng cả đường nét, màu sắc, hình vẽ…lại được người sử dụng thiết kế hoàn toàn theo sở thích cá nhân của họ.

–   Theo các nhà nghiên cứu thì bộ não con người sẽ hiểu sâu nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, vẽ theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Việc HS lập BĐTD còn giúp cho các em phát triển khả năng thẩm mĩ, do việc thiết kế nó phải bố cục màu sắc, các đường nét, các nhánh sao cho đẹp, sắp xếp các ý tưởng một cách khoa học, súc tích, hợp lí trực quan, dễ hiểu, dễ đọc, dễ tiếp thu.

–  Dạy học bằng BĐTD cũng có tác dụng thiết thực vì vẽ BĐTD bằng những vật liệu dễ kiếm, rất kinh tế và cách làm đơn giản, BĐTD có thể vận dụng với bất kì điều kiện nào của nhà trường hiện nay.

2/ Tư duy bằng bản đồ:
– Tư duy bằng bản đồ là dùng hình ảnh, đường nét, màu sắc, ngôn ngữ ghi lại nhận thức của mình về sự vật, sự việc, hành động…định hướng phát triển của sự vật, sự việc, hành động đó theo cách nhìn nhận của mỗi cá nhân.

– Có thể so sánh hai cách tư duy và hai cách biểu hiện sau:

Cách biểu hiện Tư duy truyền thống Tư duy bằng bản đồ
Đường nét

Màu sắc

Ngôn ngữ

Hình ảnh

Không gian định hướng phát triển

Thẳng

Không

Nhiều

Không

Đơn hướng

Nhiều loại

Chắt lọc

Đa hướng

3/ Bản chất phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy:
– BĐTD là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúp người học chuyển tải thông tin vào não bộ rồi được thông tin ra ngoài bộ não một cách đễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng.
– Dạy học bằng BĐTD- một giải pháp góp phần đổi mới cơ bản giáo dục.

* BĐTD sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc: BĐTD thật sự giúp ta tận dụng các chức năng của não trái lẫn não phải khi học. Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sức mạnh của bộ não. Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng lực tiềm ẩn trong chúng ta.

* BĐTD tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng:
– Sự hình dung:
BĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần nhớ. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng. Đối với não bộ, BĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán

– Sự liên tưởng, tưởng tượng: BĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rõ ràng

– Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, BĐTD cho phép GV và HS làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những màu sắc khiến GV và HS phải dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phong phú của mình. Nhưng đây không phải là bức tranh đầy màu sắc sặc sỡ thông thường, BĐTD giúp tạo ra một bức tranh mang tính lý luận, liên kết chặt chẽ về những gì được học

II/ Bản đồ tư duy đối với hoạt động giảng dạy ngữ văn

Những câu hỏi cần đặt ra là:

          – BĐTD có phải là công cụ ghi chép vạn năng với mọi bài học?

– BĐTD có thể vận dụng trong mọi trường hợp, mọi công đoạn của quá trình nhận thức?

– Giáo viên có thể soạn bài dưới hình thức BĐTD?

– Học sinh có thể ghi bài theo BĐTD?

– Trong dạy học Ngữ văn, BĐTD dùng vào các trường hợp nào sẽ phát huy hiệu quả?

1/ Giáo viên sử dụng BĐTD như một công cụ để hỗ trợ quá trình dạy học:

a/ Vận dung BĐTD vào việc hỗ trợ kiểm tra bài học cũ của học sinh.:

– GV đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài rồi yêu cầu HS vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các từ liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện BĐTD.

Ví dụ :
Kiểm tra kiến thưc cũ về  bài “ So sánh”( Ngữ văn 6), đầu giờ GV cho từ khoá “ So sánh” rồi yêu cầu HS vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ        ( Nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các HS khác bổ sung ý. GV kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của HS.

Bản đồ tư duy bài SO SÁNH

– GV cũng có thể vận dụng BĐTD như một công cụ để kiểm tra kiến thức cũ bằng cách đưa ra một bản đồ tư duy rồi nêu yêu cầu để HS thuyêt trình

Ví dụ: Muốn kiểm tra kiến thức về tác giả, tác phẩm bài Nước Đại Việt ta ( Ngữ Văn 8), GV đưa ra BĐTD rồi yêu cầu HS bổ sung nội dung vào các nhánh,sau đó các em nhìn BĐTD thuyêt trình

BĐTD giới thiệu tác giả, tác phẩm bài Nước Đại Việt ta

 

 

b/ Vận dụng BĐTD vào việc hỗ trợ dạy học kiến thức mới: Đây la cách làm khó nhất trong việc vận dụng BĐTD vào việc dạy kiến thức mới. BĐTD ở đây là công cụ ghi chép một cách khoa học để HS nhìn vào BĐTD để đọc được va khắc sâu kiến thứcđã học thành vốn riêng của mình. Dùng BĐTD giáo viên chỉ là người hướng dẫn gợi ý để HS chủ động tiếp thu kién thức, tránh được cách dạy truyền thống là GV giảng, HS nghe, ghi chép một chiều. Như vậy tính tích cực và chủ động của HS sẽ sinh động hơn, giúp các em thích học môn văn hơn.

Ví dụ :
Với văn bản “ Thầy bói xem voi”(Ngữ văn 6) sau phần đọc và tìm hiểu chú thích, GV có thể vẽ mô hình BĐTD lên bảng. BĐTD gồm 5 nhánh chính, ở mỗi nhánh có thể phân thành nhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung bài học.
– Để có thể hoàn thiện mô hình BĐTD của bài học GV sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức( như: Dựa vào văn bản em hãy xác định các ý chính?HS dễ dàng xác định được các ý chính: hoàn cảnh các thầy bói xem voi, cách xem voi, các thầy phán về voi, kết quả, bài học rút ra).
– Tiếp tục hoàn thành các nhánh của BĐTD bằng hệ thống câu hỏi nhỏ có tính gợi mở như: các thầy xem trong hoàn cảnh nào? Cách xem của các thầy ra sao?…

 

 

Bản đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi- Ngữ văn 6.

  1. Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần…:

Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.

– Dùng BĐTD để sơ đồ hoá kiến thức của một pnần bài học

Ví dụ: Sơ đồ hoá kiến thưc khi phân tích nhân vật Lão Hạc( Ngữ Văn 8)

 

 

– Dùng BĐTD để sơ đồ hoá kiến thức của toàn bài học:

Ví dụ: Sơ đồ hoá toàn bộ kiến thưc bài Ánh Trăng( Ngữ Văn 9)

– Sử dụng BĐTD rất hiệu quả và tiết kiệm được thời gian khi dạy bài ôn tập hoặc tổng kết chương phần

Ví dụ: Sơ đồ minh hoạ

 

BĐTD Tổng kết Ngữ pháp( Ngữ Văn 9)

2/ Học sinh sử dụng BĐTD để hỗ trợ học tập, phát triển tư duy logic, học tập độc lập

– HS có thể tự sử dụng  BĐTD để hỗ trợ việc tự học ở nhà như: tìm hiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ BĐTD trên giấy, bìa…hoặc để tư duy một vấn đề mới, qua đó phát triển khả năng tư duy logic, củng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép.

– Học sinh có thể làm việc trực tiếp với máy tính, sử dụng phần mềm ImindMap, phát triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng máy tính trong học tập.

III/ Những ưu điểm và hạn chế khi ứng dụng sử dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn:

1/ Ưu điểm của BĐTD

– Dễ nhìn, dễ viết.

– Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của HS

– Phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não.

– Rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic.

– Tiết kiệm thời gian, công sức.

– Cung cấp bức tranh tổng thể.

– Sử dụng rộng rãi , hiệu quả và dễ dàng ở nhiều lĩnh vực

=> BĐTD giúp HS học được phương pháp học: Bản đồ tư duy là một công cụ giúp học tập hiệu quả thông qua việc vận dụng cả não phải và não trái giúp người học tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kĩ hơn, nhớ được nhiều chi tiết hơn.

2/ Những hạn chế của BĐTD:

– Không nên quá cực đoan cho rằng BĐTD có thể giúp người học tất cả. Trên cơ sở những kiến thức được hệ thống hoá, sơ đồ hoá, người học còn phải biết thực hành ngôn ngữ bằng việc đọc, nói và viết.

– Đừng ngộ nhận sử dụng Bản đồ tư duy là đổi mới phương pháp dạy học. Cũng như CNTT, Bản đồ tư duy chỉ là phương tiện trong quá trình dạy học.

– Không phải bài nào, chương nào cũng sử dụng bản đồ tư duy cho hiệu quả cao. Cần sử dụng Bản đồ tư duy cho hợp lí và phù hợp với nội dung và hình thức bài học.

– Bản đồ tư duy nếu bị lạm dụng sẽ làm hạn chế kĩ năng viết bài luận của học sinh.

– Đối với văn bản nghị luận, việc sử dụng BĐTD hỗ trợ đọc hiểu các văn bản sẽ là thuận lợi. Nhưng với văn bản nghệ thuật, muốn dùng BĐTD để biểu hiện một văn bản, người học phải tìm ra mạch của văn đó (xét đơn thuần về mặt ý).

– BĐTD không tái hiện được cảm xúc, không chuyển tải hết sự tinh tuý trong cách dùng từ, đặt câu, trong nghệ thuật cấu trúc tác phẩm. Vì vậy, sử dụng BĐTD trong dạy học là cần thiết, nhưng phải tránh được sự suy diễn khô khan đẫn đến xã hội hoá dung tục tác phẩm.

IV/ Cách thức tạo lập một bản đồ tư duy:

1/ Phương tiện thiết kế BĐTD

Phương tiện để thiết kế BĐTD khá đơn giản, chỉ cần giấy, bìa, bảng phụ, phấn màu, bút chì màu, tẩy,…hoặc dùng phần mềm Mindmap, vì vậy có thể vận dụng với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Điều quan trọng là GV hướng cho HS có thói quen lập BĐTD trước hoặc sau khi học một bài hay một chủ đề, một chương, để giúp các em có cách sắp xếp kiến thức một cách khoa học, lôgic.

2/ Phương thức tạo lập

– Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)

+Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình. Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.

+Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh.

+Có thể dùng từ khóa, kí hiệu , câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng sâu sắc về chủ đề.

– Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm

+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật.

+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.

+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.

– Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ

+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.

+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian.

+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh. Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa.

+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằng đường kẻ. Các đường kẻ càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn.

+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn.

+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu. Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.

– Bước 4: Người viết có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật cũng như giúp lưu chúngvào trí nhớ tốt hơn.

  3/ Điều cần tránh khi ghi chép trên BĐTD

  • Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
  • Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết.
  • Dành quá nhiều thời gian để ghi chép.

V/ Giới thiệu một số BĐTD trong dạy học Ngữ văn:

 

 

 

 

 

 

 

VI/ Mô hình thiết kế bài dạy sử dụng BĐTD:                              

 

 

C/ KẾT LUẬN:

Trong thời đại thông tin bùng nổ, kiến thức ngày một nhiều, cái mới liên tục phủ định cái cũ thì việc có một công cụ ghi nhớ và sáng tạo là vô cùng quan trọng và cần thiết. Mạnh dạn mang cái mới đến với thế hệ trẻ yêu thích sáng tạo là việc nên làm. Sử dụng thành thạo và hiệu quả BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của HS và PP giảng dạy của GV, có thể vận dụng nó cho tất cả môn học ở trường phổ thông và cho lập kế hoạch công tác quản lí.  Hi vọng việc sử dụng Bản đồ tư duy sẽ được nhân rộng để tăng hiệu quả cho quá trình dạy học môn Ngữ văn nói riêng và các môn khoa học khác.

Mong sự góp ý cuả các bạn đồng nghiệp để chuyên đề của chúng tôi được hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn

 

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Giáo trình tâm lí giáo dục.
  2. Tài liệu giáo dục học.
  3. Sách giáo khoa ngữ văn 6,7,8,9.
  4. Sách giáo viên và thiết kế bài giảng lớp 6,7,8,9.
  5. Các bài văn mẫu lớp6,7,8,9 THCS.
  6. Sách tham khảo.

MỤC LỤC

A. ĐẶT VẤN ĐỀ: …………………………………………..……………

1. Lí do chọn đề tài ………………………………………………

2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………….

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………..

3.1 Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………

3.2 Phạm vi nghiên cứu………………………………………………….

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:………………………………..……….……

I. Cơ sở lí luận của vấn đề ………………………………………

Thực trạng của vấn đề……………………………………………………….

II. Các biện pháp thực hiện ……………………….……….………

1.Giao viên sử dụng BĐTD như một công cụ để hỗ trợ dạy học

2.Học sinh sử dụng BĐTD như một công cụ để hỗ trợ học tập

III. Những ưu điển và hạn chế.

IV.Cáh thức tạo lập. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm …

V.Giới thiệu một số BĐTD trong dạy học gữ văn

VI .Mô hình thiết kế bài dạy sử dụng BĐTD……….……..……

C. KẾT LUẬN:                                                                                   17

 

 

1

1

1

2

2

2

2

2

3

4

4

7

10

12

12

12

                                                          Nam Thái, ngày 10 tháng 05 năm 2017

                                                                               Người thực hiện

 

                                                                                    Nguyễn Thị  Luyến

                                                                                                   

 

 

 

 

 

                                                                                          

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đánh giá của hội đồng khoa học trường:

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

 

Đánh giá của hội đồng khoa học PGD:

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….