Cách dạy chuyên đề nghị luận hiện đại Việt Nam qua văn bản: Đức tính giản dị của Bác Hồ

Tháng Mười Hai 12, 2020 11:34 chiều

Cách dạy chuyên đề nghị luận hiện đại Việt Nam qua văn bản: Đức tính giản dị của Bác Hồ

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

  1. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:

Trong  thời đại công nghệ 4.0 đang phát triển mạnh như vũ bão hiện nay trên toàn thế giới thì mỗi người cần thay đổi, thích nghi, học tập áp dụng vào cuộc sống của mình. Đối với mỗi giáo viên công nghệ 4.0 được áp dụng trong các  phương pháp dạy học . Đặc biệt đối với việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh đã và đang thu hút sự tham gia của toàn thể giáo viên các cấp học nói chung và bậc THCS nói riêng. Đồng thời cũng thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội. Nhất là trong các  năm vừa qua ngành giáo dục đã giao cho các Nhà trường cùng tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch dạy học theo chuyên đề bám vào khung phân phối chương trình của Bộ GD năm 2008-2009; nội dung chương trình giảm tải và chuẩn kiến thức kĩ năng.

Chúng ta được biết ở  chương trình cũ, sách giáo khoa cũ đã sắp xếp theo phong cách ngôn ngữ văn bản như: văn trần thuật, miêu tả… Mỗi tuần ở các khối lớp thường phân phối giống nhau có bốn tiết thì hai tiết đầu là tiết Văn bản. Tiết ba học tiếng Việt; tiết bốn học Tập làm văn. Cứ lặp lại đều như thế ở các tuần. Nhưng giờ đây nhiệm vụ của người giáo viên dạy môn Ngữ văn là phải thực hiện đúng tinh thần đổi mới của chương trình thực hiện Kế hoạch dạy học theo chuyên đề để xác định rõ các nội dung tích hợp với những môn học nào. Xác định các năng lực cần phát triển rồi cần rèn những kĩ năng sống cụ thể cho học sinh cũng như đổi mới các phương pháp dạy học chủ yếu là những phương pháp nào. Các chủ đề Văn học, tiếng Việt và Tập làm văn vẫn sắp xếp xen kẽ và  dạy theo thứ tự từ tiết 1 cho đến tiết cuối cùng của bộ môn. Mỗi chủ đề lại chia thành nhiều chuyên đề khác nhau. Nội dung này trong phần hướng dẫn của chương trình cũ chưa được sáng tỏ.

Nếu giáo viên không nắm được tinh thần đổi mới này cứ dạy chung chung thì không hình thành được các chủ đề lớn với các chuyên đề cụ thể đảm bảo có các nội dung trên. Cụ thể ở môn Ngữ Văn lớp 7 chuyên đề Nghị luận hiện đại Việt Nam có các chuyên đề nhỏ hơn về những vấn đề xã hội là các văn bản: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta – Hồ Chí Minh ; Đức tính giản dị của Bác Hồ – Phạm Văn Đồng . Chuyên đề về văn học có văn bản: Sự giàu đẹp của tiếng Việt – Đặng Thai Mai ; Ý nghĩa của văn chương –  Hoài Thanh . Chúng ta cũng thấy trong chuyên đề: Nghị luận hiện đại Việt Nam đều bao gồm các nội dung khó cho cả giáo viên và học sinh. Vì thế nghiên cứu cách dạy học chủ đề này là một việc làm khó, phải đi sâu vào nghiên cứu cả phương pháp dạy học để phát huy được các năng lực, rèn các kĩ năng sống cụ thể cho học sinh giúp các em nắm vững giá trị từng chuyên đề cũng như cả chủ đề chung. Học sinh biết vận dụng một cách hiệu quả nhất những điều đã học vào thực tế cuộc sống. Trên đây là những lí do để  tôi viết sáng kiến kinh nghiệm : “CÁCH DẠY CHUYÊN ĐỀ NGHỊ LUẬN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM QUA VĂN BẢN: ĐỨC TÍNH GIẢN DỊ CỦA BÁC HỒ” – Môn Ngữ Văn 7.

  1. tả giải pháp:
  2. Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:

– Thực tế trước khi áp dụng giải pháp mới này thì mỗi giáo viên Ngữ Văn cứ dạy thông thường theo phân phối của từng tuần với thứ tự cứ dạy xong hai tiết văn học đến tiết tiếng Việt cuối cùng là Tập làm văn giáo viên không định hướng rõ sẽ tích hợp kiến thức của những môn học nào với nội dung mình dạy. Cũng như không để ý định hướng phát triển các năng lực cần thiết, rèn các kĩ năng sống để đào tạo những học sinh biết chủ động tích cực, có khả năng sáng tạo cao, tự giải quyết được các tình huống gặp trong thực tế cuộc sống….

+ Ưu điểm: Ở giải pháp cũ này học sinh chỉ cần ghi chép đầy đủ kiến thức vào vở của mình rồi về nhà học thuộc bài là đạt yêu cầu. Học sinh trong mỗi giờ học không phải làm việc nhiều, không cần huy động nhiều vốn kiến thức, khả năng tư duy cao để giải quyết một vấn đề nào đó.

+ Nhược điểm: Người Thầy truyền thụ kiến thức mang tính áp đặt nhiều hơn. Học sinh học thụ động, ghi chép  học thuộc bài một cách máy móc, không liên hệ vận dụng hữu ích với thực tế cuộc sống của chính bản thân mình và mọi người xung quanh, khả năng  thực hành, sáng tạo bị hạn chế nhiều….

Chính vì vậy mà người Thầy của bộ môn Ngữ Văn nói riêng và các môn học nói chung đã đào tạo ra thế hệ học sinh kém khả năng thực hành và sáng tạo, thụ động trước mọi tình huống yêu cầu đặt ra đòi hỏi con người phải biết năng động, giỏi thực hành có hiệu quả thiết thực đáp ứng được yêu cầu của xã hội, đất nước hiện nay. Cho nên chúng tôi đã nghiên cứu cách dạy trên nhằm khắc phục các nhược điểm của giải pháp cũ.

  1. Giải pháp sau khi có sáng kiến

Cuộc sống hiện nay cần đào tạo những lớp học sinh năng động sáng tạo, biết thực hành tốt, đối phó được với mọi khó khăn thách thức. Nhất là cần nâng cao tinh thần yêu nước, trách nhiệm của thanh niên học sinh với cộng đồng, lí tưởng cách mạng, tinh thần tự học và say mê lao động cống hiến… Đặc biệt là hưởng ứng phong trào “Học tập và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh”. Phong trào này đã trở thành cuộc vận động chính trị rộng rãi, sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân và tầng lớp thanh thiếu niên nói riêng. Phương pháp học tập, làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, tác phong  Hồ Chí Minh ở mỗi tầng lớp, mỗi lứa tuổi sẽ có một cách học tập, nhận thức riêng. Mặc dù mục đích chung chúng ta cần hướng tới là học tập làm theo tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn nữa trong nhà trường ngoài những bài văn thuộc phong cách nghệ thuật như bài thơ: Đêm nay Bác không ngủ – Minh Huệ; Viếng lăng Bác – Viễn Phương… Để nâng cao thêm trí tuệ cuả học sinh và nâng cao khả năng làm văn Nghị luận được học ở lớp 7 chúng tôi phải giúp các em hiểu rõ thêm về phong cách nghị luận qua chuyên đề: Nghị luận hiện đại Việt Nam trong sáng kiến trên.

Văn bản: “ Đức tính giản dị của Bác Hồ” nằm trong chuyên đề Nghị luận hiện đại Việt Nam của chủ đề Văn học. Theo phân phối chương trình cũ và theo nội dung giảm tải thì văn bản này là Tiết 93 – Bài 23. Còn theo Kế hoạch dạy học theo chuyên đề năm học 2019 – 2020 và nội dung tinh giản kiến thức do Đại dịch Covid- 19 này là Tiết 87 – Bài 23.

Khi dạy và học chuyên đề này, học sinh đã nắm được đặc điểm của kiểu văn bản nghị luận nói chung trong chủ đề Tập làm văn về bản chất, phương pháp lập luận nói chung và cách làm bài lập luận chứng minh nói riêng. Đây chính là thuận lợi giúp các em hiểu hơn và nắm chắc kiến thức của chuyên đề

* Cách thức thực hiện (cách dạy cụ thể chuyên đề trên), giáo viên phải cho học sinh thấy được đức tính giản dị là phẩm chất cao quý của Bác Hồ qua đoạn văn nghị luận đặc sắc của tác giả Phạm Văn Đồng.

   Hoạt động 1: Khởi động

+ GV định hướng:

*Năng lực cần phát triển cho học sinh là : Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sử dụng ngôn ngữ.

* Phương pháp: Vấn đáp, gợi mở

+ GV: Kiểm tra bài cũ học sinh bằng câu hỏi: Nêu xuất xứ; giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản: Sự giàu đẹp của tiếng Việt – Đặng Thai Mai?

+ GV giới thiệu vào bài mới.

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức

+ GV định hướng:

* Năng lực cần phát triển cho học sinh là :  Năng lực tiếp nhận văn bản, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sử dụng ngôn ngữ, tự học, sáng tạo, giao tiếp và hợp tác.  Năng lực giao tiếp tiếng Việt; năng lực thưởng thức văn học (cảm thụ thẩm mỹ).

* Tích hợp:

+ Môn Ngữ Văn lớp 7 ở chuyên đề Tập làm văn nghị luận qua bài: Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận; bài: Cách làm bài văn lập luận chứng minh, Bài viết số 5. Với Văn bản: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta- Hồ Chí Minh.

+ Môn Ngữ Văn 9 ở bài: Phong cách Hồ Chí Minh- Lê Anh Trà.

+ Môn Giáo dục công dân 6 bài: Tiết kiệm;

+ Môn Công dân 7 là bài: Giản dị và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, phong trào học tập và làm theo tấm gương của Bác ;

+ Môn Âm Nhạc: các bài hát về Bác

* Phương pháp dạy học: Thuyết trình, đàm thoại, gợi mở, đọc hiểu, thảo luận nhóm, nghiên cứu tình huống

* Hình thức: Tổ chức dạy học trong lớp theo 2 cách: học theo cá nhân, học theo nhóm.

* Phương tiện: Máy trình chiếu, phiếu học tập Ao, bút dạ.

Bước 1:  phần I. Giới thiệu tác giả, tác phẩm

Bất cứ một loại văn bản nào chúng ta cũng phải tìm hiểu phần Giới thiệu chung này. Phần này gồm có mục tìm hiểu về tác giả  và phần tác phẩm với các nội dung cụ thể.

Một thuận lợi đây là văn bản viết thuộc chuyên đề: Nghị luận hiện đại Việt Nam. Đồng thời học sinh lại đang học chủ đề Tập làm văn với bài: Tìm hiểu chung về phép lập luận chứng minh; Cách làm bài văn này. Đặc biệt hơn tác giả của văn bản lại là cố thủ tướng Phạm Văn Đồng với hơn 30 năm giữ chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta vừa là học trò xuất sắc, là cộng sự gần gũi của Bác đã sống và làm việc nhiều năm bên cạnh Bác, hiểu được sâu sắc về vị lãnh tụ kính yêu.

+ Để học sinh hiểu sâu sắc về nội dung của văn bản thì khi học mục 1: Tác giả của phần này, chúng tôi cho học sinh lưu ý về tác giả từ năm sinh, năm mất, quê quán, nhận xét chung về cuộc đời cách mạng và hoạt động văn hóa nghệ thuật của tác giả. Với các câu hỏi sau:

? Dựa vào chú thích * SGK và hiểu biết của em hãy nêu đôi nét chính về tác giả Phạm Văn Đồng ?

? Nhận xét câu trả lời của bạn?

Hs trả lời xong thì GV cho HS quan sát bức chân dung tác giả;  tác giả chụp cùng Bác Hồ; cùng phần diễn giảng khắc sâu của GV về tác giả như: ông là 1 trong những người giữ trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Tác giả vừa là học trò xuất sắc vừa là cộng sự gần gũi nhất của Bác nên tác giả có rất nhiều tác phẩm, công trình viết về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta ví như tác phẩm: Hồ Chủ tịch- Hình ảnh dân tộc; Chủ tịch Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh- Qúa khứ- Hiện tại và tương lai…..

+ Ở mục 2. Phần tác phẩm: Trong quá trình dạy  về xuất xứ, đọc; chúng tôi lưu ý với học sinh lớp 6, 7 khâu rèn đọc rất quan trọng, cần thiết. Nên yêu cầu học sinh  to, rõ ràng, mạch lạc và còn biểu hiện được rõ tình cảm của tác giả Phạm Văn Đồng . Giáo viên đọc mẫu đoạn văn đầu tiên. Gọi 2 đến 3 học sinh vừa đọc vừa nhận xét tiếp. Học sinh tìm nội dung chính của văn bản; bố cục; thể loại.

Riêng phần bố cục sau khi học sinh nêu xong thì GV cho HS nhận xét và hỏi để tích hợp sang chủ đề Tập làm văn ở bài: Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận.

Giáo viên chốt lại văn bản học chỉ là một đoạn trích trong bài: Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại của tác giả nên bài viết không có đầy đủ các phần của một bài văn nghị luận hoàn chỉnh,  mới chỉ có hai phần như các em vừa tìm hiểu đấy là phần nêu vấn đề; phần giải quyết vấn đề. Đồng thời giáo viên cũng nhấn mạnh luôn nội dung tích hợp là để bài văn thuyết phục người đọc, người nghe ngoài bố cục hợp lí, chặt chẽ thì các luận cứ, luận chứng phải rõ ràng, toàn diện. Và học sinh vận dụng phần học kiến thức ở bài tập làm văn này để phân tích văn bản học.

Hệ thống câu hỏi:

+ Xuất xứ

? Nêu xuất xứ của văn bản ?

– Trích từ bài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại- diễn văn trong Lễ kỉ niệm 80 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

ọc- hiểu chú thích

– GV: Đọc mẫu 1 đoạn đầu của văn bản. Sau đó gọi một học sinh đọc tiếp đoạn văn từ: “ ……Thắng, Lợi” ( HS đọc)

? Một HS nhận xét bạn đọc và đọc phần còn lại? ( HS đọc)

? Trong các từ ngữ nêu ở chú thích , em thấy từ ngữ nào khó hiểu hơn, hãy chỉ ra và giải thích nghĩa của chúng?

– HS nêu nghĩa 1 vài chú thích( ví dụ từ: thanh bạch, tao nhã, hiền triết)

? Vậy bài văn nghị luận vấn đề gì?

? Tìm bố cục của văn bản này ? Nhận xét trình tự lập luận?

? Em hãy nhận xét câu trả lời của bạn?

– Bạn nêu bố cục đúng nhưng thiếu nhận xét: Trình tự lập luận của tác giả đi từ việc nêu vấn đề chính ở phần 1 đến làm sáng rõ cho vấn đề bằng hai khía cạnh ở phần 2

? Trong phần Tập làm văn các em đã học bài: Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận, hãy nhớ và nhắc lại nhiệm vụ của ba phần: Nêu vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề?  Bố cục văn bản này có gì giống và khác?

+ Ý 1: Ba phần

– Mở bài: Nêu vấn đề có ý nghĩa với đời sống (luận điểm xuất phát, tổng quát)

– Thân bài: Trình bày nội dung chủ yếu của bài (có thể có nhiều đoạn nhỏ, mỗi đoạn có một luận điểm phụ)

– Kết bài: Nêu kết luận nhằm khẳng định tư tưởng, thái độ, quan điểm của bài

+ Ý 2: So sánh

– Giống: Cũng có phần mở bài nêu vấn đề chính có ý nghĩa; phần thân bài thì trình bày những biểu hiện cụ thể của vấn đề chính đó

– Khác: Văn bản này không có phần kết bài

? Xác định thể loại  văn bản?   

Bước 2: Phần II. Đọc- hiểu văn bản:

Giáo viên phải cho học sinh thấy rõ trong văn bản nghị luận không chỉ có lí lẽ không mà muốn lí lẽ ấy đến được với người đọc phải kèm theo những dẫn chứng vừa chính xác, vừa cụ thể và sinh động nữa. Đặc biệt giáo viên phải giúp học sinh hiểu rõ lời văn của tác giả Phạm Văn Đồng rất giàu hình ảnh, sinh động vô cùng. Ví dụ trong bài viết: Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc,tác giả nói về Bác là: “ Bình sinh Hồ Chủ tịch là người rất giản dị, lão thực. Vĩ nhân , thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực. Đã cầu kì là thiếu bản lĩnh, cố làm trò để đánh lừa thiên hạ và hậu thế…”………. Hoặc trong bài: “ Chủ tịch Hồ Chí Minh hình ảnh dân tộc”, tác giả Phạm Văn Đồng nói: “ Mấy mươi năm xa cách quê hương, Người ko quên mùi vị những thức ăn đặc biệt Việt Nam như cà muối, dưa chua tương ớt, và ngày thường bây giờ , Người vẫn ưa thích những thứ ấy. Ngay  sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và và quà bánh cho trẻ em, tuy chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất. Bình sinh như thế, đứng địa vị Chủ tịch Chính phủ kháng chiến kêu gọi quốc dân, Người dùng những lời nói thống thiết đi sâu vào tâm hồn Việt Nam: “ Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người trong một nước thì thương nhau cùng”.

Từ đây Giáo viên cho học sinh nắm được kiến thức cơ bản của hai đơn vị kiến thức cần phân tích: Giới thiệu đức tính cao đẹp của Bác; Những biểu hiện cụ thể trong đức tính giản dị của Bác. Trong đó kiến thức trọng tâm là phần 2: Những biểu hiện cụ thể trong đức tính giản dị của Bác qua hai phương diện là: Trong lối sống; trong lời nói, bài viết. Ở phần này người Thầy phải giúp học sinh phát triển được các năng lực đã định hướng chung, trong đó chú trọng hơn đến năng lực hợp tác, sáng tạo, giải quyết vấn đề và năng lực thưởng thức văn học. Và giúp cho học sinh tích hợp được với những biểu hiện cao đẹp khác trong lối sống giản dị của Bác trong môn Ngữ văn 9 ở bài: Phong cách Hồ Chí Minh- Lê Anh Trà sau câu hỏi thảo luận về sự giản dị trong lối sống của Bác Hồ. Tích hợp với chủ đề Tập làm văn: Cách làm bài văn lập luận chứng minh về cách đưa lí lẽ, dẫn chứng. Với bài Giáo dục công dân học ở lớp 6; lớp 7 về lối sống giản dị, tiết kiệm; Phần tích hợp này thực hiện sau khi phân tích xong ý a: “Trong lối sống” của mục (2).  Sau khi phân tích xong ý b: “ Trong lời nói, bài viết” của mục (2) thì giáo viên tích hợp với  văn bản học: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta – Hồ Chí Minh  mà học sinh được học trong tiết 31- Bài 20, những việc làm cụ thể khác của chính Bác; các bài thơ, mẩu chuyện ngợi ca lối sống cao đẹp của Bác của các tác giả khác.  Những lời nói; bài viết giản dị khác của Bác.  Rèn các kĩ năng sống: biết học tập và làm theo tấm gương của Bác: thực hiện lối sống giản dị, tiết kiệm, có trách nhiệm,  biết yêu lao động, quan tâm giúp đỡ mọi người, nói và viết  biết dùng từ ngữ giản dị, dễ hiểu….

Hệ thống câu hỏi:

Ý 1: Giới thiệu đức tính cao đẹp của Bác.

GV yêu cầu HS quan sát hai đoạn văn đầu của văn bản ( SGK/ Trang 53)

? Nêu nội dung chính của phần văn bản này?

GV diễn giảng lại nội dung chính của phần văn bản này chính là vấn đề cơ bản của toàn văn bản, còn gọi là luận điểm chính ở tập làm văn  được thể hiện ngay đoạn 1

? Đoạn văn thứ 2 có ý nghĩa như thế nào?

? Từ đây em có nhận xét gì về cách nêu vấn đề của tác giả? ? Tác dụng?

– Vừa trực tiếp vừa ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và chặt chẽ

– Đức tính giản dị của Bác chính là: Sự nhất quán giữa cuộc đời cách mạng và cuộc sống giản dị, thanh bạch của Bác

Ý 2. Những biểu hiện cụ thể trong đức tính giản dị của Bác

? Nhắc lại những nội dung tác giả nêu ở phần 2 của bố cục?

– Sự giản dị của Bác trong lối sống

– Sự giản dị của Bác trong lời nói,  bài viết.

a.Trong lối sống

?  Theo dõi đoạn văn: “ Con người của Bác, đời sống……..Nhất, Định, Thắng, Lợi!” (sgk/ 53). Các em hãy cho biết sự giản dị trong lối sống của Bác Hồ được tác giả nói qua các khía cạnh nào đây?

– Trong bữa ăn

– Nơi ở

– Việc làm

– Quan hệ với mọi người

Giáo viên cho học sinh đọc câu hỏi thảo luận nhóm trên trình chiếu: Tìm và phân tích các dẫn chứng nói về sự giản dị của Bác ở  các khía cạnh trên?

Giáo viên nhắc nhở thời gian thảo luận là 2 phút; các nhóm thảo luận như các tiết học trước. Yêu cầu nhóm trưởng đôn đốc các thành viên của nhóm mình thảo luận sôi nổi, có hiệu quả. Hết thời gian thì giáo viên đáp án chuẩn và gọi 1 học sinh đọc trên trình chiếu:

+ Bữa ăn: Chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi một hạt cơm, ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại được sắp xếp tươm tất. Chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ

Đơn giản, đạm bạc, Bác quý trọng người lao động

+ Nơi ở: Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng; cái nhà sàn đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống thanh bạch và tao nhã biết bao

Căn nhà sàn đơn sơ, mộc mạc, gần gũi với thiên nhiên

+ Việc làm:  Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc:Từ việc lớn cứu nước, cứu dân

Đến những việc nhỏ: Trồng cây…..Bác cốgắng tự mình làm việc, người giúp việc và phục vụ Bác rất ít

Bác say mê, tận tâm và tỉ mỉ.

+ Quan hệ với mọi người: Viết một bức thư, nói chuyện với các cháu. Bác đặt tên cho Trường, Kì, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi

Bác gần gũi, quan tâm và yêu thương tất cả mọi người

Giáo viên: Khi học sinh đọc xong giáo viên hỏi: Các em vừa nghe bạn đọc đáp án, hãy đối chiếu với kết quả của các nhóm và nhận xét xem nhóm nào đã làm được đúng nhất?

Giáo viên nhận xét, bổ sung và kết luận lại: Các em có thời gian là 1 phút ghi lại kết quả trên. Đồng thời giáo viên diễn giảng tích hợp nhanh: Các em ạ những cái tên Bác đặt  cho 8 đồng chí bảo vệ Bác ở chiến khu Việt Bắc ( vào năm 1947) cũng thể hiện niềm tin sắt son của Bác vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta sẽ thắng lợi một ngày không xa đấy!  Và ngợi ca lối sống giản dị của Bác có biết bao nhiêu tác giả đã nói như  tác giả Lê Anh Trà  ở bài: “Phong cách Hồ Chí Minh” cũng nói rằng: Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế giới, có 1 vị Chủ tịch nước lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh bờ ao làm cung điện của mình…Và chủ nhân của này cũng trang phục hết sức giản dị, với bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ của các chiến sĩ Trường Sơn đã được một tác giả phương Tây ca ngợi như 1 vật thần kì… Sau này các em sẽ học trong chương trình Ngữ văn 9 đấy!

Giáo viên: Yêu cầu HS quan sát đoạn văn tiếp theo “ Nhưng chớ hiểu lầm… thế giới ngày nay” – sgk/ 53

? Nêu nội dung chính của đoạn văn này?

– Nó không chứng minh cụ thể cho luận điểm trên mà giải thích, bình luận thêm về phẩm chất giản dị của Bác để tránh mọi người hiểu lầm đời sống của Bác là khắc khổ của nhà tu hành hay nhà hiền triết xưa.

-Bác sống đời sống giản dị vì Bác sống sôi nổi, phong phú đời sống và cuộc đời đấu tranh gian khổ chống Pháp, chống Mĩ của quần chúng nhân dân

? Tại sao tác giả khẳng định đời sống vật chất giản dị làm nổi bật sự phong phú về đời sống tinh thần, tâm hồn, tình cảm của Bác. Đó thực sự là đời sống văn minh?

? Vì sao tác giả nói đó thực sự là cuộc sống văn minh? ( HS thảo luận tự do)

? Dựa vào bài: Cách làm bài văn lập luận chứng minh ở phần Tập làm văn, hãy cho cô biết phần thân bài phải đảm bảo yêu cầu nào?

? Từ đây chỉ ra các biện pháp nghệ thuật được tác giả Phạm Văn Đồng sử dụng để phân tích lối sống giản dị của Bác?

– Các lí lẽ đưa ra chặt chẽ, hợp lí; dẫn chứng cụ thể, sinh động, được sắp xếp theo trình tự  và có sức thuyết phục cao

– Tác giả giải thích, bình luận chính xác mà sâu sắc

– Lời văn sống động, giàu hình ảnh

? Vậy các em có suy nghĩ như thế nào về lối sống của Bác?

?  Ở lớp 6 và lớp 7 các em đã được học những bài Giáo dục công dân nào cũng nói về phẩm chất cao đẹp trên?  Qua đó em có cảm nhận ra sao lối sống của Bác?

– Lớp 6 là bài: Tiết kiệm

– Lớp 7 là bài: Giản dị

– Chúng em cảm thấy khâm phục, ngưỡng mộ lối sống giản dị trong đời sống vật chất gắn liền với đời sống tinh thần cao đẹp , phong phú của Bác. Chúng em học tập và làm theo Bác….

? Tìm những câu thơ hay những mẩu chuyện viết về đời sống giản dị của Bác mà em biết?

–  HS:                             “Nhà gác đơn sơ, một góc vườn
Gỗ thường mộc mạc, chẳng mùi sơn
Giường mây chiếu cói, đơn chăn gối
Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn.”

                                                      ( Theo chân Bác- Tố Hữu)

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

Cuộc đời cách mạng thật là sang”

(Tức cảnh Pác Bó- Hồ Chí Minh)

HS: Câu chuyện Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ (trong: Chuyện kể về Bác Hồ – tập III)

* Giáo viên cho học sinh quan sát các bức tranh “Bác đang từ nhà sàn bước xuống”; tranh “ Bác đang chia quà cho các bạn thiếu niên nhi đồng” và cảnh “ Bác đang cuốc vườn”. Giáo viên kết luận lại , bình nâng cao về lối sống cao đẹp của Bác để chuyển sang ý (b).

  1. Trong lời nói, bài viết

? Một em đọc lại đoạn văn cuối trong sách giáo khoa/ 53, 54?

? Sự giản dị trong lời nói, bài viết của Bác được tác giả phân tích bằng những chi tiết  nào, hãy chỉ  ra? Nhận xét?

* Tác giả trích lại lời nói và bài viết của Bác Hồ:

– Lời nói : “ Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

– Bài viết:“ Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không bao giờ thay đổi”

* Cách diễn đạt của Bác trong khi nói  về vấn đề độc lập, tự do thật giản dị, dễ hiểu cái quý giá nhất của đất nước là không bị lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào. Hoặc khi Bác viết cũng gần gũi, dễ hiểu: đất nước ta, dân tộc ta thống nhất là một, không ai có quyền chia rẽ, ai ai cũng phải hiểu điều này……

? Lời nói, bài viết của Bác giản dị có tác dụng như thế nào? Vì sao?

– Vì sự giản dị trong bài nói, bài viết của Bác thâm nhập vào quả tim, khối óc của quần chúng nhân dân, tạo nên sức mạnh vô địch

* Bác mong muốn nhân dân hiểu, nhớ và làm được

? Trong bài: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Bác kính yêu, các em đã học ở tiết trước, hãy tìm đọc một số câu văn nói lên sự giản dị của Bác trong bài viết?

– HS 1: Dân ta có 1 lòng yêu nước nồng nàn. Đó là một truyền thống quý báu của ta.

– HS 2: Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tử kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm.

– Giáo viên lấy thêm ví dụ trong bản Tuyên ngôn độc lập Bác viết và đọc vời lời lẽ gần gũi, giản dị vô cùng như: “ Tôi nói đồng bào có nghe rõ không?”……

Bước 3: Phần III. Tổng kết:

Ở phần tổng kết thì giáo viên cho học sinh khái quát lại các nét đặc sắc về nghệ thuật, nội dung đã phân tích trên. Chú ý định hướng phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp tiếng Việt.

Hệ thống câu hỏi:

? Tóm tắt các biện pháp nghệ thuật đặc sắc trong văn bản: Đức tính giản dị của Bác Hồ? ? Nhận xét thái độ của tác giả ?

? Nghệ thuật ấy đã làm nổi bật lên nội dung gì của văn bản?

? Giá trị nghệ thuật, nội dung trên đã được cô đọng lại bằng phần ghi nhớ; hãy đọc ghi nhớ sgk/ 55?

Hoạt động 3: Thực hành

    Giáo viên cho học sinh làm được bài tập 1 trong sgk dưới dạng câu hỏi trên trình chiếu; định hướng phát triển các  năng lực giải quyết vấn đề và hợp tác. Năng lực giao tiếp tiếng Việt; năng lực thưởng thức văn học(cảm thụ thẩm mỹ). Học sinh tích hợp với môn Âm nhạc các bài hát về Bác, các mẩu chuyện hay bài thơ, câu thơ của Bác viết hoặc của các tác giả khác. Phương pháp thuyết trình, gợi mở; trả lời theo cá nhân.

? Quan sát tám bức tranh trên đây và suy nghĩ tìm đọc những câu thơ; bài hát  hoặc  tên mẩu chuyện liên quan đến nội dung từng bức tranh?

Hoạt động 4: Vận dụng

+ Giáo viên giúp học sinh vận dụng điều được học vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn cuộc sống: ý nghĩa lớn lao của đức tính giản dị trong cuộc sống.

+ Giáo viên rèn cho học sinh các  năng lực sử dụng ngôn ngữ, tự học, sáng tạo, giao tiếp tiếng Việt và hợp tác.

+ Phương pháp: nghiên cứu tình huống, trả lời theo cá nhân.

? Qua việc tìm hiểu đức tính giản dị cao đẹp của Bác Hồ , các em sẽ học tập và làm theo Bác như thế nào?

– Bản thân em sẽ học tập Bác cách sử dụng đồ dùng tiết kiệm như chiếc cặp sách năm học lớp 7 này em giữ gìn cẩn thận hơn để lên lớp 8 em vẫn dùng được. Quần áo em mặc giản dị phù hợp với lứa tuổi chúng em

– Với em những quyển vở cũ em tiết kiệm rọc giấy thừa chưa viết để làm bài kiểm tra hoặc làm giấy nháp.

– Em xúc động vô cùng trước tinh thần lao động hăng say của Bác dù Bác bận trăm công nghìn việc mà Bác vẫn tranh thủ lao đông nên em học tập Bác tinh thần lao động như lời Bác nói: Học tập tốt, lao động tốt; Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, Tùy theo sức của mình…

– Học ở Bác lòng yêu thương, quan tâm đến bố mẹ, gia đình và mọi người xung quanh. Trong lớp có bạn đau tay phải, em nhận chép bài giúp bạn ạ.

– Bác Hồ là tấm gương sáng mẫu mực, Bác sống giản dị mà không cao siêu, xa lạ với mọi người. Mỗi học sinh chúng ta có thể học tập và làm theo Bác: Biết sống tiết kiệm, giản dị, nói làm,  cụ thể, chính xác, vì “ nói có sách mách có chứng”

   Giáo viên khái quát lại bài: Trong lớp mình hôm nay cũng có bạn chưa thể hiện rõ mình sẽ học tập Bác điều gì? Nhưng cô tin rằng sau bài học này tất cả các em cũng sẽ hiểu rõ hơn và đều quyết tâm cố gắng học tập, làm theo lối sống giản dị cao đẹp của Bác. Biết sống phù hợp với hoàn cảnh, sống có ích nhất thì cuộc sống sẽ tốt đẹp biết bao! Cô và các em hãy hưởng ứng và tham gia tích cực hơn nữa phong trào : “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện từ năm 2006 đến nay nhé!…

Hoạt động 5: Mở rộng,bổ sung:

Giáo viên dặn dò học sinh nắm toàn bộ kiến thức cơ bản của bài học sau này biết vận dụng vào viết bài: Tập làm văn số 5. Và xem, chuẩn bị  bài:  Chuyển câu chủ động thành câu bị động

III/ Hiệu quả:

* Qua cách dạy mới này tôi áp dụng vào lớp 7B thì tôi thấy chất lượng của bộ môn Ngữ văn được nâng cao rõ rệt so với lớp 7C tôi vẫn dạy theo cách dạy cũ. Cách dạy này đã phát triển được năng lực cần thiết với các kĩ năng sống hữu ích cho học sinh để giải quyết những yêu cầu của thực tế cuộc sống hôm nay. Dưới đây là kết quả tổng hợp các tiêu chí (bảng thống kê)

 

Năm học 2017- 2018 Giỏi Khá Trung bình Yếu, kém
SL TL SL TL SL TL SL TL
Lớp 7B

(37 HS)

11 29,7% 19 51,4% 6 16,2% 1 0,3%
Lớp 7C

(36 HS)

4 11,1% 12 33,3% 12 33,3% 8 22,2%

 

* Từ đây chúng tôi thấy với lớp 7B – lớp được áp dụng sáng kiến vào quá trình giảng dạy thì đã có tiến bộ rõ rệt. Tỉ lệ học sinh yếu kém giảm rõ; tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng lên nhiều. Đặc biệt các kĩ năng sống các phẩm chất năng lực cần thiết được hình thành phát triển cụ thể. Với lớp 7C – lớp không được áp dụng sáng kiến vào giảng dạy thì tỉ lệ học sinh khá giỏi rất ít, và các kĩ năng sống cùng các phẩm chất năng lực cơ bản hầu như không được hình thành. Học sinh không hứng thú học tập; không dám tự khẳng định mình, bày tỏ ý kiến quan điểm cá nhân. Học sinh không phát huy được tính chủ động sáng tạo biết xác định những việc làm cần thiết.

* Khả năng nhân rộng của sáng kiến: trên đây là một số kết quả đạt được khi tôi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “Cách dạy chuyên đề nghị luận hiện đại Việt Nam qua văn bản: Đức tính giản dị của Bác Hồ” trong giảng dạy chủ đề Văn học của môn Ngữ Văn 7. Tôi thấy việc giảng kĩ một bài vừa làm sáng tỏ lý luận chung cho cả một chuyên đề đã và đang học, vừa rèn luyện cho học sinh biết cách làm bài Nghị luận chứng minh từ cách trình bày luận điểm đến cách đưa các lí lẽ; sắp xếp các dẫn chứng cụ thể, chính xác. Đồng thời rèn cho học sinh cách sử dụng hình ảnh ngôn ngữ sinh động cho bài văn nghị luận nói chung vì vậy chuyên đề này đã bổ sung kiến thức toàn diện cho học sinh lớp 7.

Từ cách dạy chuyên đề này tôi cũng rèn luyện các kĩ năng sống cho học sinh: biêt sống giản dị, khiêm tốn trong sinh hoạt đồi sống hàng ngày; biết cách cư xử gần gũi, hòa đồng quan tâm tới bạn bè gia đình mọi người. Kĩ năng sống: nói, làm cụ thể chính xác; lời nói đi đôi với việc làm…

Trên đây là một vài kinh nghiệm của tôi khi áp dụng sáng kiến này vào trong việc giảng dạy môn Ngữ Văn 7 ở chuyên đề nghị luận. Báo cáo này sẽ còn không ít thiếu xót nên tôi rất mong sự đóng góp ý kiến chân thành nhất của đồng nghiệp và bạn bè để sáng kiến được thực hiện tốt hơn.

Tôi xin cam kết không vi phạm bản quyền

Tôi xin chân thành cảm ơn!

 

Nam Thái, ngày 25 tháng 4 năm 2017

TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

 

 

 

 

                                                                                        Phạm Thị Lan

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Xây dựng chuyên đề dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh – môn Ngữ Văn (Sở giáo dục và Đào tạo Nam Định)
  2. Hiểu Văn, dạy Văn – tác giả Nguyễn Thanh Hùng (nxb GD TP Hồ Chí Minh).
  3. Đổi mới: Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn: Ngữ Văn cấp THCS (Hà Nội- 2014)
  4. Sách giáo khoa Giáo dục công dân 6,7
  5. Sách giáo khoa Ngữ Văn 9 – tập 1
  6. Sách giáo viên Ngữ Văn 7 – tập 2
  7. Tài liệu về chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn – tập 1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

QUAN, ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                                                 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT NAM TRỰC

       Phòng Giáo dục và Đào tạo xác nhận SKKN của đồng chí …………………………………… ( Chức vụ                ), đạt hiệu quả cao, được áp dụng có hiệu quả trong công tác quản lý, giảng dạy  tại trường …………………………và có phạm vi ảnh hưởng  trong huyện.

 

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÁC PHỤ LỤC

ẢNH MINH  HỌA SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG

TRONG THỰC TẾ GIẢNG DẠY

 

  1. Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc văn bản.

 

2.Học sinh đang đọc văn bản.

 

 

  1. Học sinh đang thảo luận nhóm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi:  Hội đồng chấm Sáng kiến kinh nghiệm

Tôi tên là : Phạm Thị Lan

Ngày tháng năm sinh: 03- 05- 1975

Chức danh:  Tổ trưởng tổ: Khoa học Xã hội

Đơn vi công tác: Trường THCS Nam Thái

Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Văn

Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “CÁCH DẠY CHUYÊN ĐỀ NGHỊ LUẬN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM QUA VĂN BẢN: ĐỨC TÍNH GIẢN DỊ CỦA BÁC HỒ” – Môn Ngữ Văn 7.

Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng trong giảng dạy bộ môn Ngữ Văn 7 ở THCS

Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ ngày 09tháng 05 năm 2020 đến ngày 09 tháng 6 năm 2020

Mô tả bản chất của sáng kiến: Khi dạy và học chuyên đề này, học sinh đã nắm được đặc điểm của kiểu văn bản nghị luận nói chung trong chủ đề Tập làm văn về bản chất, phương pháp lập luận nói chung và cách làm bài lập luận chứng minh nói riêng. Đây chính là thuận lợi giúp các em hiểu hơn và nắm chắc kiến thức của chuyên đề

Những điều kiện cân thiết để áp dụng sáng kiến: có:……………………..

– Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: Qua cách dạy mới này tôi áp dụng vào lớp 7B thì tôi thấy chất lượng của bộ môn Ngữ văn được nâng cao rõ rệt so với lớp 7C tôi vẫn dạy theo cách dạy cũ. Cách dạy này đã phát triển được năng lực cần thiết với các kĩ năng sống hữu ích cho học sinh để

– Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử

Tôi  xin cam đoan mọi thông tin trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Nam Thái, ngày 07 tháng 07 năm 2020

Người nộp đơn       

                             

 

                                                                                    Phạm Thị Lan

 

 

 

                                                                                

1.Tên sáng kiến:

  1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
  2. Thời gian áp dụng sáng kiến: